BƯỚC NGOẶT CUỘC ĐỜI * 

            (...) Niên học 1962-1963, tôi học lớp đệ nhị. Người bạn ngồi gần tôi vẫn là Đoàn Ngọc Tấn đầu dãy, bên phải là N.N.A. Mấy tháng sau ngày khai giảng, N.A gửi tặng tôi mấy chiếc khăn tay, thêu hình hoa hồng trắng. Bạn Từ Văn Châu bắt gặp theo trêu tôi mãi, tôi thẹn quá, đem đốt hết. A. nói lời yêu tôi, nhưng tôi vờ như không nghe. Nhưng cho mãi tới bây giờ, tôi vẫn xem N.A như người bạn gái mà tôi thương yêu và kính trọng nhất. Tôi vẫn nhớ mãi và trân trọng tình cảm của A. (N.A tốt nghiệp đại học Dược năm 1969. Sau 1975 định cư ở Úc, mấy mươi năm rồi không gặp lại). Lúc học ở đại học Dược khoa, A. vào tìm tôi ở đại giảng đường II đại học Khoa học. Hai đứa đi chơi ngoài công viên Ngã Sáu. Có khi cùng đi ciné bên nhau, nhưng tuyệt nhiên giữa tôi và A. vẫn là tình bạn trong sáng. Bạn bè chúng tôi không tin. Nhưng sự thực là thế...

            Thầy dạy Việt văn là Nguyễn Thế Hào. Thầy Hào thấp người, trắng, có hàm râu xanh tuy cạo nhẵn nhụi nhưng vẫn ửng màu xanh. Thầy dạy nhiệt tình rất đáng trân trọng. Thầy Vĩnh Phong dạy Pháp văn. Thầy trắng trẻo, thấp người, chỉ mang sandale, người Huế thuộc hoàng tộc. Sau, thầy chuyển về dạy ở Pétrus Ký và cưới chị Bích (bạn cũ của chúng tôi) nhà ở Trà Ôn. Nghe nói Tết Mậu Thân, thầy vào R và đã qua đời ở chiến khu. Thầy dạy Toán là Đinh Văn Đăng. Thầy cao khều, đi dạy xách cặp da. Thầy rất từ tốn, nhưng nghiêm, dạy giỏi. Thầy đặc biệt chú ý tới tôi vì tôi không nhiều lời, khiêm tốn, bài tập nào tôi cũng giải được (tôi đã tự học trước ở nhà). Thầy dạy Lý hoá là Võ Triêm, mới vừa tốt nghiệp ĐHSP. Thầy Triêm người miền Trung, thấp người, nhưng rắn rỏi, đen, tự kiêu; tôi kính mà xa. Dạy Anh văn là cô Nguyễn Ngọc Kim Anh, trắng đẹp, người Bến Tre, mới tốt nghiệp ĐHSP, không có gì đặc sắc về nhân cách cũng như năng lực sư phạm. Dạy Vạn vật vẫn là thầy Phạm Văn Nhơn. Tôi vẫn nhớ tới giờ những điều thầy dạy về thức ăn cho thực vật là: "Zn Mn Bo Cu Ni Co Ti Na Si Fe Al Cl".

            Đáng ghi ra đây là ông Vũ Ngọc Điềm. Thầy mới ra trường dạy môn Sử địa. Hai vợ chồng dạy cùng trường Thoại Ngọc Hầu, lúc nào ông cũng tự khoe là nói nhanh, một phút mấy trăm tiếng, chê người khác không có tài bằng ông. Dáng đi lúc nào cũng nghênh ngang, đi dưới cây dù che nắng của vợ. Tôi không có chút tình cảm thầy trò nào với ông cả. Tôi không dám nói ra sợ các bạn đồng học không cùng quan điểm chê mình vô lễ. Sau này gặp các bạn cũ lớp đệ nhị B1 ngày ấy, người nào cũng cùng quan điểm với tôi. Ông thiếu sự khiêm tốn của một nhà giáo chân chính.

            Trong lễ phát thưởng cuối năm học 1962-1963, tôi được trao phần thưởng Danh dự do ông Chủ tịch Quốc hội Trương Vĩnh Lễ trao tặng, sau đó tôi vùi đầu vào học thi. (Nếu không lầm thì ông Trương Vĩnh Lễ là cháu nội của văn hào Pétrus Trương Vĩnh Ký).

            Kỳ thi tú tài I ban B (khoa học toán), khoá ngày 24 tháng 5 năm 1963, phiếu báo danh của tôi mang số 2480. Kỳ thi có hai loạt thi, loạt I gồm Việt văn, Toán, Lý hoá, Sinh ngữ I; loạt II gồm Sinh ngữ II, Vạn vật, Sử địa, Công dân. Đậu loạt I mới chấm bài loạt II.

            Lần đầu tiên, tôi phải tới một thành phố lạ là Cần Thơ để thi tú tài, Trường thi là trường trung học Phan Thanh Giản, lớn và cổ kính bậc nhất ở Nam kỳ lục tỉnh . Cha tôi đưa xuống Cần Thơ ở trọ nhà bác Năm Âu (anh cô cậu của cha) để đi thi. Thi xong về Long Xuyên thì được giấy báo của Nha Trung học cho tôi tham dự trại hè học sinh giỏi miền Nam ở Vũng Tàu.

            Tôi chưa từng biết thành phố Vũng Tàu, nên mong tới ngày khởi hành. Trường Thoại Ngọc Hầu có 6 học sinh đại diện, gồm: Thành, Trí, Tông, Tánh, Trị và Tòng. Tánh học đệ ngũ, Tòng học đệ Thất; sau này Tánh là thủ khoa Chính trị kinh doanh, Cao học hành chánh, Tòng thì tốt nghiệp ban Lý hoá ĐHSP Sài Gòn. Tôi học đệ nhị (cao nhất) nên là trưởng đoàn. Ông Phan Văn Trinh là người đưa chúng tôi đi. Xe là xe của nhà trường, chiếc xe chỉ có 12 chỗ ngồi, màu xanh đậm hiệu gì tôi quên mất! (Volkswengen?).

            Khởi hành lúc 5 giờ sáng ngày 11-6-1963, tới Sài Gòn khoảng giữa trưa. Khi tới ngã tư Phan Đình Phùng - Lê Văn Duyệt (nay là Nguyễn Đình Chiểu - Cách Mạng Tháng Tám), tôi thấy có "một rừng" Phật tử và các nhà sư Phật giáo ngồi thành vòng tròn, hướng vào giữa một nhà sư đang chắp tay niệm Phật. Cảnh sát bao quanh không xông vào được. Quang cảnh hỗn loạn, một vị tăng tưới xăng lên người của nhà sư đang chắp tay niệm Phật. Ngọn lửa sau đó bùng lên mãnh liệt, tôi thấy nhà sư ngã xuống. Tôi quá đau lòng không dám nhìn tiếp, xe kẹt và chầm chậm chạy lên Tân Định, lên nhà ông Hiệu trưởng Từ Chấn Sâm ở đường Đinh Công Tráng.

            Sau, tôi mới biết nhà sư tự thiêu là Hoà thượng Thích Quảng Đức. Một cái tháp không lớn lắm dựng ở góc đường Lê Văn Duyệt - Phan Đình Phùng, cạnh Toà đại sứ Miên để kỷ niệm nơi nhà sư đã tự thiêu. Phong trào Phật giáo chống Ngô Đình Diệm đã tới đỉnh điểm.

            Sau này được biết trong số những tăng ni tham gia buổi tự thiêu của Hoà thượng Thích Quảng Đức có vị tăng trẻ ở Bến Tre, năm ấy khoảng 20. Ông bị bắt và sau khi ra tù thì qua Pháp học. Bây giờ là Giáo sư Tiến sĩ và cũng chính là người nuôi chim hồng lạc tại Việt Nam Phật Quốc tự ở Nepal (sư Thích Huyền Diệu). Những nhân chứng như sư Huyền Diệu thật đáng cho đời xưng tụng!

            Buổi chiều tới Vũng Tàu nhập trại xong thì xe của nhà trường quay về Long Xuyên. Chúng tôi sáu đứa làm thủ tục nhập trại, ở kế cận đoàn học sinh tỉnh Bến Tre. Đó là bạn Đặng Thanh Châu, cùng tuổi với tôi, là học sinh giỏi của Bến Tre.

            Hơn một năm sau (7/1964) chúng tôi gặp lại nhau ở Trường ĐHSP Sài Gòn. Tái ngộ trong bất ngờ và thú vị. Châu đậu ban Vạn vật, còn tôi ban Lý hoá. Sau 1975, Châu là hiệu trưởng Trường THPT Lê Hồng Phong, là hiệu trưởng giỏi mà cũng là thầy giáo giảng dạy xuất sắc. Nghe nói anh Châu gọi tướng Đồng Văn Cống bằng cậu ruột.

            Ngày hôm sau, 12-6-1963, tôi và hai bạn nữa, được cử làm đại diện cho toàn trại hè đến thăm Thị trưởng thành phố Vũng Tàu. Hôm sau nữa, chúng tôi được đưa lên tận hải đăng, sử dụng viễn vọng kính nhìn ra khơi, thích thú vô cùng!

            Thời ấy, bãi Sau (bãi Thùy Vân ngày nay) hoang vắng và buổi chiều có sóng to. Do đó, chúng tôi bị cấm không được trốn trại ra tắm bãi Sau. Ngoài bãi Trước ra chúng tôi cũng được nghỉ trọn buổi sáng và tắm ở bãi Dâu. Rồi sau đó viếng Thích Ca Phật đài (mới khánh thành trước đó không lâu).

            Giám đốc trại hè là giáo sư Lương Xuân Mai, Phó giám đốc Nha Trung học. Lúc ấy ông khoảng 60, có vẻ yếu. Ông hiền lành, không nói gì nhiều, ngoài lời chúc chúng tôi hưởng một trại hè vui vẻ. Phó giám đốc trại là ông Vũ Văn Tịch, người Bắc, nói tiếng sang sảng, nổi tiếng là "bàn tay sắt". Huấn luyện viên chăm sóc chúng tôi là ông Châu Thành Minh, hiền hoà và rất dễ gần, dễ mến.

            Đêm cuối cùng bế mạc trại có văn nghệ thi đua. Tôi đăng ký tiết mục ngâm thơ bài "Màu tím hoa sim". Lúc ấy bài thơ chưa có ai phổ nhạc, nên khi tôi ngâm bài thơ này, đã được cả trại vỗ tay khen ngợi. Ngay sau đó, một người con gái học đệ nhị Trưng Vương tới ngỏ ý kết bạn với tôi. Cô gái ấy là Lương Thị Thu Cúc, con gái của ông Giám đốc Lương Xuân Mai.

            Năm sau tôi gặp lại Thu Cúc tại nhà ở Hoà Hưng. Tình bạn vẫn tốt đẹp, tôi giữ tình bạn trong sáng cho tới ngày nay. Thu Cúc lớn hơn tôi một tuổi, hơi gầy, đẹp, trước 1975 là cô giáo. Sau 1975, tôi không còn tin tức gì về người bạn này nữa. Tôi mãi trân trọng Thu Cúc và mến Cúc như ngày đầu mới quen. Thu Cúc có giọng nói miền Nam rất ngọt ngào, dù cha nói giọng Huế, mẹ nói giọng Bắc.

            Từ trại hè Vũng Tàu về tới Sài Gòn, tranh thủ giờ nghỉ xe, tôi chạy tới trường nữ Gia Long xem kết quả thi (cho tất cả các hội đồng thi toàn quốc). Tôi vui mừng khôn kể, tôi đã trúng tuyển hạng Bình (hình như Hội đồng Cần Thơ ban B chỉ có 4 người đỗ hạng Bình). Điểm thi của tôi do thầy Nhơn mang về, môn nào điểm cũng khả quan. Mẹ tôi vui mừng khôn xiết, tôi còn nhớ mãi: SKD 2480 Đặng Trung Thành, 21-3-1945, Long Xuyên, hạng Bình.

            Tôi hoàn toàn tìm lại được niềm tự tin mà tôi đã mất suốt 17 năm. Tôi chơi đàn khá hơn, hát cũng hay hơn. Tôi hát luôn miệng bài "Màu hoa thiên lý" của Hoàng Thi Thơ và bài "Mưa nửa đêm" của Trúc Phương (...).

ĐẶNG LANG ANH

(Trích "Hai mươi năm dòng đời lặng lẽ")

________________________

* Tựa do BBT đặt.