HÀNH TRANG CUỘC SỐNG                                                   

Sáng hôm ấy tôi dậy thật sớm. Sau khi ngắm nghía chiếc áo dài trắng đồng phục mới mặc lần đầu, tôi xách chiếc cặp da màu đen nặng trịch đi ra bến đò. Đó là buổi sáng mùa thu năm 1966.

Chiếc đò nhỏ sau vài phút lắc lư, chồng chềnh, nó bắt đầu vạch mặt nước chĩa mũi về hướng chợ Long Xuyên. Mỗi lần con đò vươn tới, mấy con cá lòng tong giật mình tung lên, rơi xuống, ngụp lặn trong làn nước mát của con sông Hậu hiền hòa. Đò cập bến, tôi vén vạt áo dài chuẩn bị bước lên bờ. Nước tạt ướt hết rồi! Lưng cũng ướt! Tôi vụng về, bẻn lẻn úp chiếc nón lá lên đầu rồi men theo vỉa hè đường Tự Do (đường Nguyễn Trãi bây giờ). Ra đến công trường Trưng Vương thì rẽ phải, hướng về trường Thoại Ngọc Hầu.

Thời đó, con gái nông thôn như tôi được học trung học là hiếm. Khi tôi thi đậu vào Trường Thoại Ngọc Hầu, má tôi ngại không muốn cho đi vì: con gái mà đi xa, lo lắm! Tôi học hết bậc tiểu học ở Hội An (quận Chợ Mới) cũng là "phước đức ông bà để lại"- má tôi nói với ba như thế. Có lẽ người muốn nói đến những lần tôi thoát chết trên đường đi học.

Những năm ấy, vùng Mỹ An Hưng (thuộc quận Lấp Vò, tỉnh Sa Đéc) là vùng giải phóng, nhưng là vùng "mỏng". Tàu sắt của Mỹ chạy ngoài sông Tiền cứ vài hôm lại quay họng súng vào mà xả đạn. Dân trong vùng hễ nghe ai đó la "tàu lên" là chạy bán sống bán chết vào chùa Tòng Sơn để tránh đạn. Lũ con nít chúng tôi thì chui vào cái hầm tối om om dưới chánh điện. Đông quá, chúng tôi rít chặt nhau như cá mòi, miệng đứa nào cũng lầm thầm khấn niệm: "Nam mô a di đà phật... Nam mô a di đà Phật..." để cầu mong đức Phật Thầy phù hộ. Có ngày, tàu lên bắn đến mấy lượt, con nít phải nghỉ học, người lớn không ai dám ra đồng.

Năm tôi học lớp nhứt (lớp 5 bây giờ), vùng Mỹ An Hưng lọt vào danh sách "bình định" của chính quyền Sài Gòn nên những trận càn bố diễn ra liên tục, tàu Mỹ cũng bắn thường xuyên hơn. Tôi vẫn cố gắng ngày hai buổi lội bộ hơn 3 cây số đến trường. Một lần, chiều mưa tầm tã, tan học nhưng không có áo mưa nên tôi ở lại trường, chờ tạnh mưa mới về. Trời chưa tối nhưng đường vắng tanh không một bóng người. Tôi bước đi mà nghe lành lạnh trong xương, bỗng một loạt súng nổ "Bằng... Bằng... Chát...". Súng nổ nhiều lắm! Đạn nổ rất gần tôi. Tôi hoảng hốt chạy vào vườn tre, chui vào giữa bụi tre để núp. Đạn "lum đum" nổ chát chúa trên đầu. Những đọt tre trúng đạn gục xuống trên đầu tôi,  trước mặt tôi, rồi sau lưng tôi. Tôi sợ quá, ôm mặt khóc rống lên, kêu má, kêu ba! Cho đến tối, im tiếng súng, tôi mới lần ra đường mòn lội nhanh về nhà. Về đến nhà, nhà đóng cửa, tôi ngồi co ro trước thềm chờ ba má, không biết hai người đi tìm tôi ở đâu. Đến hơn 8 giờ tối, má tôi mới về. Hai mẹ con ôm nhau khóc, không nói một lời! Mấy ngày sau, tôi mới nghe ba tôi nói: Chiều hôm đó, một chiếc tàu sắt Mỹ từ Cao Lãnh lên, xì xịch rà tới rà lui ngoài sông, rồi một tên sĩ quan Mỹ leo lên mui tàu bỏ ống nhòm quan sát (chắc là tìm "Việt Cộng"), mấy anh du kích thấy "gai con mắt" mới cho một phát đạn, tên sĩ quan Mỹ rơi xuống sông, bọn nó tức giận gọi thêm mấy chiếc nữa chi viện, bắn xối xả vào vườn tược và nhà dân từ chiều cho đến tối để trả thù.

Sau ngày ấy, tôi phải nghỉ học một tháng vì tàu Mỹ bắn thường xuyên và ác liệt lắm. Đêm đêm nằm nghe tiếng súng vọng xa xa, tôi khóc! Ước mơ đi học để làm bác sĩ sao mà xa vời quá! Bao giờ mới hết chiến tranh!

Cái ngày hay tin tôi thi đậu, ba tôi mừng lắm, khen tôi học hành như thế mà thi đậu vào trường Thoại Ngọc Hầu là thông minh. Má tôi cãi lại, đó là nhờ "phước đức ông bà để lại"...

"Tùng. Tùng. Tùng...". Hồi trống trường vang lên cắt đứt dòng hồi tưởng của tôi. Tất cả học sinh chúng tôi ùa ra sân xếp hàng chuẩn bị chào cờ đầu năm học. Lớp của tôi - Đệ thất P1 - xếp hàng đối diện với hàng ghế của Ban giám hiệu và giáo viên (có lẽ vì là lính mới nên được dành cho vị trí tốt để nhìn mặt thầy cô).

Thầy HT Võ Vĩnh Khiêm đọc diễn văn khai giảng năm học. Không nghe thầy dài dòng báo cáo thành tích dạy học của nhà trường năm học trước mà chỉ nghe thầy căn dặn học sinh chúng tôi phải cố gắng học tập để trở thành những người có ích cho xã hội. Lời dặn dò đơn giản thế thôi, vậy mà tôi nhớ như in vào tâm não. Tôi cố gắng học, cố gắng vượt lên trên các bạn để hằng tháng được thầy Hiệu trưởng đến lớp phát Bảng danh dự. Thầy ít cười. Gương mặt tròn xương xương lúc nào cũng đính cặp mắt kính (rất đúng vẻ thầy giáo). Thầy nghiêm lắm, nhưng chúng tôi không ngại gặp thầy. Hễ thầy bước vào lớp là chúng tôi vui mừng vỗ tay. Sau khi xin phép giáo viên dạy lớp, thầy gọi tên từng đứa lên lãnh bảng danh dự. Những bảng danh dự đó, đến giờ tôi vẫn còn lưu giữ được gần đầy đủ để làm kỷ niệm của thời đi học.

Cồn Phó Quế - nơi tôi trọ - bấy giờ nhà cửa vẫn còn thưa. Mỗi lần đi học phải qua đò, sợ nhất là trời mưa. Mưa, đò không đưa, trễ học là cái chắc. Một ngày sau khi biết tin tôi đậu vào trường Thoại Ngọc Hầu, ba tôi đi Long Xuyên tìm chỗ cho tôi trọ. Lúc đầu định ở trong thánh thất Cao Đài gần Cầu Quay, thuận tiện vì không phải tốn tiền trọ; nhưng sau đành thôi vì ngại mình ở trọ trong chùa, người ta ăn chay, mình ăn mặn sát sanh coi sao được (!). Ba tôi mới gởi tôi ở nhà một người bác - bạn kháng chiến với ba tôi - gia đình làm giá bán ở chợ Long Xuyên, còn bác, làm thêm nghề hớt tóc, có lẽ mục đích chính không phải là để kiếm tiền thêm. Nhiều lần, tôi để ý nghe bác trò chuyện với những người đến hớt tóc, toàn là chuyện chính trị, chuyện đế quốc Mỹ sắp thua, bộ đội của cụ Hồ sẽ thắng, Nam - Bắc sẽ chung một nhà.

Ở nhà bác được một năm thì ba tôi mướn được thẻo đất khoảng 15 m2 gần đó để cất một căn nhà tre lá. Bên trong, kê một cái giường chiếc (cho tôi) và một bộ ván (cho anh tôi và đứa em con người chú). Tính ra mỗi đứa sinh hoạt được 5 m2. Mùa nước nổi, cả cồn Phó Quế chìm sâu dưới mặt nước, có khi sâu đến 7-8 tấc. Dân ở đây đều cất nhà sàn để ở. Có lẽ chỉ có nhà của chúng tôi là nhà trệt. Phải kê ván, bắt cầu trong nhà mới có thể di chuyển được. Nước lé đé bộ ván khiến sáng nào anh tôi cũng phải phơi mền vì đêm qua bị rớt xuống nước. Thiếm Ba chủ đất hay ghẹo thằng em: "Bộ tối hôm qua mày đ... d... hả?". Từ nhà ra đến bến đò cũng phải đi cầu khỉ. Nước lớn, cầu khỉ chìm sâu trong nước, phải lần đi như người mù. Có lần, vì hụt chân, tôi té nhào xuống nước, ướt cả quần áo, sách vở. Sau, một lần cô Khanh gọi tôi lên trả bài môn Vạn vật. Cô giơ cuốn sách lên cho các bạn trong lớp xem: "Em N. rất đáng khen, em học đến sình cả cuốn sách, các em nên noi gương em N.". Tôi phải cố gắng lắm mới nín cười được!

Mùa nước vất vả nhưng cũng lắm thú vui. Anh tôi mua lưới về giăng chung quanh nhà. Chiều giăng, tối gỡ cá, ngày mai khỏi mua đồ ăn. Nước giựt, anh tôi làm cần câu nhấp cá lóc dọc theo bờ sông. Có khi nhấp được con cá cả ký lô, nấu một nồi canh chua ăn đã đời, bù lại những ngày chỉ có tương chao với dưa cải. Có khi cũng mừng hụt làm cả nhà cười ra nước mắt. Đêm ấy chúng tôi đang học bài bỗng nghe tiếng cá ăn móng "chốc...chốc" dưới gầm giường. Thế là một đứa cầm đèn, một đứa cầm dao chuẩn bị cho con cá xấu số nào đó một nhát, mai nấu canh chua! Dưới ánh đèn dầu lờ mờ, "sóng nước theo làn hơi gợn tí" làm đầu con cá nhấp nhô... nhấp nhô. Anh tôi cầm con dao điều chỉnh độ chính xác rồi từ trên bổ xuống cái "phụp"! Ôi, thì ra là chiếc dép. Cái đầu con cá đã hóa thành cái quay dép. Cả nhà được một trận cười muốn bể bụng!

Tính ra chúng tôi trọ trong cái nhà nhỏ xíu ở cồn Phó Quế cũng đến 9 năm. Chín năm trời sống vất vả, ăn uống kham khổ. Có khi chẳng có thứ gì để ăn với cơm, đành phải lấy "khô xoài"(*) (mà Thím tôi gởi cho, để dành nấu canh chua) rồi chế nước mắm vào làm món "đặc sản quê hương". Mà nước mắm có phải loại ngon đâu, chúng tôi mua ở nhà cô Năm "ngọng" loại rẻ tiền nhất. Hôm nào ăn thứ "đặc sản" ấy, tối ngồi học bài, bụng tôi nó kêu nghe "òn ọt", cũng rất khó ngủ vì xót ruột quá. Đứa em tôi thì tỉnh bơ, nó ăn cực khổ giỏi lắm. Nhờ vậy mà sau này khi vào học ở Đại học Kiến trúc, gặp phải những năm thiếu gạo thời bao cấp, nó "ăn độn" hay tài dzách!

Nhắc đến thằng em con người chú, tôi lại nhớ đến một kỷ niệm. Lần đó, vào cuối buổi chiều, tôi thấy nó đi học về, một tay ôm chiếc cặp, tay kia cầm con cá - con cá kết khoảng 700-800 gram. Đi sau lưng nó là con bé chèo đò độ 11-12 tuổi. Con bé bám sát thằng em tôi lằng nhằng: "Trả con cá cho tui ông ơi!". Thằng em tôi nạt lại:

- Không trả!

- Con cá của tui. Nó nhảy lên đò của tui là của tui!

- Con cá nhảy trúng mình tao là của tao!

Đến đây thì con cá đã được "nhốt" chặt trong nhà, có 2 tên gác cửa (tôi và em tôi). Thấy không còn cách nào để giành lại con cá nên cô lái đò bé nhỏ đành quay về... bến đò. Chiều hôm đó, chúng tôi được một bữa cơm ngon với cá kết kho lạt; nhưng thú thật, tôi có cái cảm giác kỳ kỳ, thèn thẹn sao ấy! Sau này mỗi lần nghĩ lại, tôi rất thương và tội nghiệp cho cái lý lẽ của hai kẻ cùng nghèo. Thằng em của tôi, hiện là một kiến trúc sư có vai vế trong xã hội. Giờ thì nó có thể mua đến hàng mấy kí lô cá kết để biếu cho cô lái đò nghèo năm xưa, nhưng biết tìm cô ở nơi đâu! Kỷ niệm đẹp bao giờ cũng đầy nuối tiếc!

Cuộc sống vất vả nhưng anh em chúng tôi đều cố gắng học tập. Năm nào ba anh em cũng được lãnh thưởng. Vui lắm! Năm đệ tam (lớp 10), tôi được phần thưởng ưu hạng và phần thưởng trưởng lớp. Tôi bê 2 phần thưởng cao đến ngang mũi từ trường đi bộ về tới bến đò mệt muốn xỉu. Không phải tôi không có tiền đi xe lôi mà do tôi muốn đi bộ để... khoe với mọi người rằng tôi được lãnh phần thưởng đặc biệt(!). Anh tôi thì rất có hoa tay. Mỗi lần Tết đến, chúng tôi mua giấy về để vẽ thiệp chúc xuân. Tôi còn thêm nhiệm vụ trang trí tờ bích báo xuân (báo tường) của lớp. Chẳng phải vì tôi vẽ giỏi, chỉ vì tôi là trưởng lớp, phân công các bạn không nhận, tôi lãnh. Vẽ riết thành quen, rồi ham vẽ. (Chứ không mang đi mướn họa sĩ vẽ!). Xuân năm 1972, tôi vẽ thiệp chúc xuân, bìa nội san xuân của trường dự thi, đều đạt giải nhất, thêm một truyện ngắn cũng đạt giải nhất. Tết năm ấy tôi mang tiền thưởng về cho ba má tôi - 14 ngàn đồng (tương đương một lượng rưỡi vàng 24 K lúc bấy giờ). Má tôi rất mừng vì có tiền để xoay sở thuốc men cho ba tôi.

Thời học sinh đi qua, tuy tôi không tròn được mơ ước của mình - mơ làm một bác sĩ để chữa bệnh cho ba - nhưng tôi đã thực hiện được mong muốn của ba tôi: làm nghề giáo. Năm 1989, tôi về dạy ở trường Thoại Ngọc Hầu. Nhưng đến năm 1995, vì điều kiện sức khỏe không cho phép, tôi chuyển ngành, không còn được đứng trên bục giảng nữa. Dù vậy, tôi vẫn có nhiều dịp trở về trường khi hai đứa con của tôi học ở đó. Ngôi trường đã thay đổi rất nhiều nhưng thầy trò vẫn còn giữ được truyền thống tốt đẹp, vẫn xứng đáng là ngôi trường mang tên Thoại Ngọc Hầu - một danh thần triều Nguyễn đã dày công khai phá đất phương Nam. Bến đò cồn Phó Quế ngày xưa cũng không còn, xe chạy từ bên này sang bên kia, học sinh khỏi phải sợ trễ học. Dấu vết ngôi nhà nhỏ xíu của chúng tôi, ngôi nhà mà những người hàng xóm đã tháo dỡ từ cuối năm 1975, cho vào bếp lò (vì nó đã quá mục, và vì chúng tôi đã vào ở tập thể tại cơ quan), nay cũng khó tìm thấy.

Mấy mươi năm rồi...! Nhưng bao kỷ niệm đẹp đầy ắp trong tôi vẫn còn đó, vẫn mãi mãi theo tôi để làm hành trang trong cuộc sống, và nhắc nhở tôi phải sống sao cho xứng đáng là một kiếp sống của CON NGƯỜI!

                                                                                       Long Xuyên, tháng 12 năm 2008

                                                                                                         N.K.N                                                        

___________

 (*): Trái xoài non rụng, người ta lượm gọt vỏ rồi xắt mỏng phơi khô để dành nấu canh chua.