MÀU TÍM MỒNG TƠI
Tặng em NKT
Sau khi thi đậu tú tài I, được mấy ngày thảnh thơi chờ tựu trường vào lớp 12, tôi thuê sách ở bên kia đường gần nhà. Gặp quyển "Ngày xưa còn bé" của Duyên Anh, tôi đọc say sưa bài thơ "Người hàng xóm" của Nguyễn Bính, được Duyên Anh lồng vào một chuyện tình thơ dại như chính tự truyện của mình. Trong đó giậu mồng tơi là hình ảnh đậm nét nhất : "Nhà nàng ở cạnh nhà tôi / Cách nhau cái giậu mồng tơi xanh rờn / Hai người sống giữa cô đơn / Nàng như cũng có nỗi buồn giống tôi / Giá đừng có giậu mùng tơi / Thế nào tôi cũng sang chơi thăm nàng / Tôi chiêm bao rất nhẹ nhàng / Có con bướm trắng thường sang bên này...". Tôi yêu bài thơ này lắm, đến nỗi khi chép cho bạn tập thơ của các thi sĩ tiền chiến, chắc chắn phải có bài này. Sau năm 1975 khi có bình mực tím để soạn bài (lúc đó bút bi, bút mực rất hiếm, nhà trường phát cho giáo viên ngòi bút lá tre, mực tím để soạn giáo án). Tôi dùng để chép thơ của các thi sĩ nổi tiếng, được các bạn xem và thích lắm, vì chữ viết tay đẹp, sắc nét và nổi bật vì màu mực tím.
Năm học lớp 12, môn Triết học hoàn toàn mới lạ với tôi, nhưng rất thích học vì mở ra những điều khác với môn Việt văn ở các lớp dưới. Tôi mua sách của Trần Bích Lan, phần Đạo đức học, vì diễn giảng rất dễ hiểu và lôi cuốn đối với phần cho là khô khan, khó hiểu nhất này. Lúc đó tôi hay ngâm nga bài hát "Màu kỷ niệm" của Phạm Đình Chương, câu "Áo nàng vàng anh về yêu hoa cúc/ Áo nàng xanh anh mến lá sân trường/ Sợ thư tình không đủ nghĩa yêu thương/ Anh pha mực cho vừa màu luyến thương". Đến khi Ngô Thụy Miên có bài "Tuổi mười ba" cũng phổ thơ Nguyên Sa, thì câu thứ tư mới lấy hết nguyên bản trong thơ "Anh pha mực cho vừa màu áo tím", nghe xuôi tai hơn bài nhạc của Phạm Đình Chương. Khi gần thi tú tài II mới biết Nguyên Sa chính là Trần Bích Lan, thi sĩ mà mình ngưỡng mộ, lại mang gương mặt của một triết gia đạo mạo.
Màu tím được thể hiện ở các loài hoa, trái . . . nhưng tôi thích màu tím mồng tơi, vì mang hơi hướng của tuổi thơ khi còn sống cùng bố mẹ. Những năm 60 của thế kỷ trước, nhà của bố mẹ tôi ở nhờ phía sau trường Nam, Nữ tiểu học Long Xuyên. Hồi đó còn một cái hầm nước rất lớn, bờ bên kia là chùa Bình An tự. Men theo bờ hầm nhà cửa còn thưa thớt, cây cối um tùm. Vì vậy, một lần đi hái mồng tơi về cho mẹ nấu canh, tôi đang hái lá, có dây mọc bao quanh thành một cái lùm rậm rạp, phát hiện ra một ổ gà con lóc nhóc. Thì ra mấy ngày qua, mẹ của tôi đi tìm một con gà mái, chẳng biết đi đâu mà không thấy đẻ trứng. Bây giờ mới biết nó đẻ ở lùm mồng tơi này, ấp thành con luôn mà chẳng ai biết.
Mồng tơi là món canh thường xuyên trong nhà, thường thì mẹ nấu với canh cua, thêm mướp và rau đay, đều trồng trong vườn nhà, lúc nào cũng có sẵn. Món canh này dễ nấu và hấp dẫn, nhờ màu xanh mướt mát của rau, vị đậm đà béo bùi của cua đồng, hòa cùng vị ngọt và thanh trong của nước dùng hơi nhớt. Chỉ cần thêm một bát cà pháo muối nữa, hoặc đĩa cá cơm kho khô thì thật là tuyệt vời. Giữa trưa hè nóng bức, được chan cơm ăn với canh cua mồng tơi thì không còn gì bằng. Nếu không có thời giờ giã cua đồng, nấu mồng tơi với tôm khô hoặc hến, trai, cũng ngọt nước không kém.
Bây giờ mồng tơi được trồng như một loại rau rẫy, lá to như bàn tay; không như hồi trước, trồng cho dây leo, lá nhỏ. Hương vị của mồng tơi lá to hình như không đậm đà bằng lá nhỏ trồng trên giàn. Tuổi thơ thích chơi nhà chòi bằng lá mồng tơi xắt nhỏ, trái chín mọng màu tím được cà ra làm mực, sơn móng tay. Mực này ban đầu rất đẹp, nhưng qua ngày hôm sau thì bốc mùi hôi khó chịu. Quanh nhà lúc nào cũng có mồng tơi mọc theo hàng rào, loại cây này rất dễ sống, hạt rụng xuống lại tiếp tục lên cây con khác quanh gốc. Bây giờ, mồng tơi được dùng để nhúng với lẩu bò, cháo cua đồng, các loại lẩu hải sản khác đều không thiếu rau này.
Mồng tơi là loại rau dân dã, có mặt trong ca dao từ rất lâu, mang tính ẩn dụ sâu xa : "Gần nhà mà chẳng sang chơi / Để anh ngắt ngọn mồng tơi bắc cầu". Nhân đây thành ngữ "Nghèo rớt mồng tơi" thường được hiểu có liên quan đến loại rau này, nhưng không phải vậy. "Nghèo rớt mồng tơi" có nơi người ta còn gọi là "Nghèo rớt mùng tơi". Trước hết không nên nhầm lẫn "mồng tơi" ở đây là một loại rau. Nếu áo đồng âm với một loại rau thì cũng phải hiểu cho hết ý. Ngày xưa không có áo mưa như bây giờ (khoa học chưa tiến bộ), nên người ta lấy lá cọ, lá nón, kẹp vào thanh tre vót nhỏ bện và ghép thành một vật dụng để che mưa nắng, gọi là "áo tơi" (loại áo này ngày xưa cả dọc miền Trung đều có, nhưng hiện nay ở Nghệ An, Hà Tĩnh, một số nơi còn mặc để che mưa nắng và nhất là tránh "gió Lào". Loại áo này về mùa đông thì ấm, về mùa hè thì mát và bền, chỉ có vấn đề là "áo tơi" không thể xếp cho gọn được, làm ra nó sao thì cứ để như thế mà dùng đến khi hư thì thôi. Cái cổ áo tơi (có vùng gọi là mồng hay mùng) rất ít khi hư, rách, vì nó được làm kỹ và có nón che nên ít hư là vậy (khi mang "áo tơi" thường đội nón lá che phủ, cổ áo tơi ít tiếp xúc với mưa nắng nên lâu hư). Khi dùng cái áo tơi mà đến "Rớt mồng tơi" thì chỉ có những người quá nghèo mà thôi. Do đó thành ngữ "Nghèo rớt mồng tơi" được ra đời là thế.
Tản mạn về mồng tơi, để nhớ về quá khứ ấu thơ mà ai cũng có, loại rau mộc mạc, nên cũng là thức ăn đồng hành của những nhà nghèo khó, hình như chưa bao giờ xuất hiện ở những nơi chốn sang trọng, hơi hướng cung đình. Nhưng dẫu cho có mặt thì cũng mang tính khiên cưỡng. Hãy để mồng tơi sống đời dân dã nơi bình dị, hương đồng cỏ nội, có mái ấm gia đình bên bữa cơm đơn sơ mà ấm cúng, mang vị ngọt đến cho đời luôn xanh tươi như màu lá của thân leo bền bĩ cùng thời gian./.

NGÔ LÂM VIÊN